Hãy cùng tham khảo và luận giải một ví dụ sau đây dựa trên công thức 7 bước mà tôi đã chia sẻ với bạn đọc trước đó.
Nữ mệnh:
Nhắc lại điều này, đề phòng bạn đọc quên hoặc người mới bỡ ngỡ
Dòng 1 và 2 là thời gian sinh tính theo dương lịch.
Dòng thứ 4 là chuyển thời gian sinh từ dương lịch sang âm lịch hệ Can Chi.
Dòng thứ 3 gọi là Thập Thần (có bảng tra).
Dòng thứ 5 là các Can tàng trong Chi (có bảng tra).
Trích nguyên văn lời giải của Thiệu Vĩ Hoa:
Khôn tạo này của một người phụ nữ quan chức. Vào một ngày tháng 2 năm 1985, đột nhiên đến thăm khu ở của tôi. Tôi rất kinh ngạc, chưa kịp hàn huyên thì bà đã nói:
“Ông Thiệu à, ở bên ngoài đồn đại rất ghê, nói rằng ông nghiên cứu tứ trụ tính mệnh rất giỏi, có phải không? Đó là thực hay là giả?”
Tôi tự hào thừa nhận rằng:
“Đúng đấy, họ đồn không sai. Tôi đã nghiên cứu mấy năm rồi và cũng có biết được chút ít.”
Bà ta rất kinh ngạc và liền nói với tôi một cách thăm dò:
“Cái đó có phải là phong kiến mê tín không?”
Tôi thấy bà ta nghi ngờ, đắn đo, liền nói:
“Nếu bà không tin thì cứ nói rõ giờ sinh, tháng đẻ của bà để tôi thử đoán xem. Chắc bà sẽ biết được đó là khoa học hay mê tín.”
Sau khi sắp xếp xong tứ trụ của bà ta, tôi nói:
“Tứ trụ của bà quá cứng, khắc cha, khắc mẹ, lại còn khắc chồng. Cha bà khắc mẹ bà rất mạnh, mẹ bà đã mất sớm. Cha bà tối thiểu đã kết hôn hai lần. Bà tuy khắc cha nhưng mệnh cha bà vượng nên khắc không nổi. Bà từ nhỏ lại sống xa cha nên lực khắc yếu. Cha bà hiện nay là người tinh thần sung sức, khỏe, thọ.”
Mới nói qua như thế, bà ấy đã mở to mắt kinh ngạc. Tôi tiếp tục đoán những người trong nhà và quá khứ của bà ta. Nghe qua, bà ta nói đều đúng. Cha bà năm nay đã 81 tuổi, người rất khỏe, và xin tôi đoán xem còn sống bao lâu nữa. Tôi nói phải đề phòng năm 1991.
Trụ năm Ất Mộc thiên tài là cha. Trong tứ trụ ba lần gặp Tân Kim khắc Ất Mộc, đó là bằng chứng khắc cha. Nhưng Tân Kim ở tử địa, Ất Mộc ở vượng địa, lại thông gốc với Ất Mộc ở trong Mão và còn được đất ướt trong Sửu nuôi dưỡng, nên rễ của Ất Mộc thâm căn cố đế. Vì vậy Tân Kim tuy nhiều nhưng không làm gì được.
Đại vận Đinh Hợi xung khắc cương lĩnh của lệnh tháng. Trụ năm Ất Sửu và lưu niên Tân Mùi (1991) phạm vào thiên khắc địa xung, là xung khắc Thái Tuế. Sửu Mùi vừa xung nhau thì kim khố đã mở, cả ba Tân vây khắc Ất Mộc. Ất Mộc bị khắc mà không có sinh, cho nên cha cô ấy tháng năm Tân Mùi mất, hưởng thọ 87 tuổi.
Đây là lời giải theo qui trình 7 bước:
Cùng nhìn lại công thức 7 bước mà tôi đã có chia sẻ trước đó:
Bước 1: Xác định xem cho ai
Bước 2: Xác định xem việc gì hoặc lĩnh vực nào,xem về việc tốt hay việc xấu
Bước 3: Xác định tượng đại biểu cho người và việc
Bước 4: Lập tổ hợp gốc
Bước 5: Xác định tính chất của tổ hợp gốc là cát hay hung
Bước 6: Xác định đại vận, lưu niên kích hoạt tổ hợp gốc
Bước 7: Xác định năm có nghiệm và đọc lời dụ đoán.
Bây giờ, hãy bắt tay cùng tôi giải lại chi tiết ví dụ trước đó theo công thức 7 bước mà tôi có đúc kết được.
Bước 1: Hỏi xem cho ai.
Xem cho cha của mệnh chủ.
Bước 2: Xem về việc gì, về lĩnh vực nào?
Xem cha của bà còn sống bao lâu nữa, tức là xem về điều hung.
Bước 3: Xác định chữ đại biểu cho cha
Từ 2 câu hỏi trên đi tìm chữ đại biểu cho cha. Muốn xác định tượng đại diện cho cha, cần nắm 2 tiêu chí:
Theo thập thân, sao cha là sao Thiên Tài (tra ở bảng hàm nghĩa của thập thần).
Theo cung vị, vị trí của cha mẹ ở trụ năm hoặc trụ tháng.
Nhìn vào trụ năm ta thấy can năm là Ất, đọc theo thập thiên can là Ất, đọc theo thập thần là sao Thiên Tài.
Suy ra sao cha ở đúng cung vị cha mẹ, nên chữ Ất chính là chữ đại diện cho người cha của mệnh chủ.
Bước 4: Xác định tổ hợp gốc có trong tứ trụ
Với chữ Ất, trụ năm Ất Sửu thì chữ Ất là tượng đại biểu cho cha, chi năm Sửu là nhà của cha.
Nói nên trong nhà cha có những gì?
Trong Sửu tàng can Kỷ, Tân, Quý. Do chúng ở trong cùng một nhà nên gọi là gặp. Có gặp thì mới gọi là tổ hợp thành.
→ Có tổ hợp Ất khắc Kỷ
→ Có tổ hợp Quý sinh Ất
→ Có tổ hợp Tân khắc Ất
Mục tiêu cần biết là cha còn sống bao lâu nữa, tức là xem cha sẽ chết vào khi nào.
Xem về thời gian cha sẽ chết là xem tính chất tổ hợp hung. Vì thế trong 3 tổ hợp này chọn tổ hợp Tân khắc Ất.
Bước 5: Tìm vận và lưu niên kích hoạt tổ hợp Tân khắc Ất
Phân tích tương quan so sánh sức mạnh của Tân và Ất.
Trong tứ trụ, Tân lộ ở can tháng, can ngày và can giờ, nhưng Tân Kim chỉ có gốc ở chi Sửu.
Tra theo bảng vượng suy thì Kim mộ tại Sửu, tức Kim yếu.
Ất có gốc ở hai chữ Mão, về số lượng là nhiều. Tra bảng vượng suy thì tại Mão, Ất lâm Quan, là mạnh.
So sánh tương quan Tân với Ất trong tứ trụ thì Tân yếu, Ất mạnh.
Tương quan như thế này là mất cân bằng, và mất cân bằng có tính chất hung.
Nhưng tại thời điểm mệnh chủ mới sinh ra, sự mất cân bằng này lợi thế đang ở sao cha.
Thêm tổ hợp Quý sinh Ất tuy có tổ hợp nhưng Quý chưa lộ, nên chỉ là yếu tố bổ sung chưa hoàn chỉnh.
Bước 6: Để xác định thời gian cha sẽ chết, tức là phải vào thời điểm Tân mạnh và Ất yếu
Nhìn vào các vận thì thấy:
Hai vận Nhâm Ngọ và Quý Mùi đều là vận sinh cho Ất.
Sang hai vận Giáp Thân và Ất Dậu, tuy kích hoạt tổ hợp Kim khắc Mộc, nhưng Ất có gốc Mão mạnh, còn Kim có gốc tại Sửu là yếu.
Sang vận Bính Tuất, Đinh Hợi:
Trong Hợi có tàng Giáp, Giáp với Ất là đồng loại.
Trụ Đinh Hợi hình thành tổ hợp Giáp Mộc sinh Đinh cùng trụ là tổ hợp thành. Vì Mộc sinh Hỏa, nên Mộc suy yếu.
Suy ra cha bắt đầu gặp bất lợi tại vận này.
Tìm trong dãy lưu niên 10 năm của vận này, từ năm Quý Hợi 1983 đến Tân Mùi 1991.
Thấy trong Mùi tàng Ất, tổ hợp Tân khắc Ất được nhắc lại, gọi là lưu niên kích hoạt tổ hợp Tân khắc Ất → thỏa mãn điều kiện cần.
Trong đó:
Tân có gốc ở Sửu.
Tại tứ trụ thì Tân đang nhập mộ, nay gặp năm Tân Mùi là năm Tân được sinh, tức Tân mạnh thêm, vì Sửu Mùi xung.
Sửu là kho Kim, khi bị xung thì kho được mở ra. Kim đang bị giữ trong kho nay được giải phóng, nên Kim nhiều và mạnh.
Ất vốn có gốc ở Mão vượng, nay gặp vận sinh cho Đinh là vận hư hao.
Đến năm Mùi, Mùi là mộ của Mộc, gọi là thời gian Ất gặp mộ, mộ tức là yếu.
So sánh tương đối tại năm này:
Tân Kim vượng
Ất Mộc mộ (yếu)
→ Là tượng mất cân bằng, có tính chất hung đối với cha, thỏa mãn điều kiện đủ.
Bước 7: Đọc lời dự đoán
Căn cứ vào trạng thái của tổ hợp gốc Tân khắc Ất: từ chỗ Ất mạnh – Tân yếu, trải qua thời gian biến đổi đến vận Đinh Hợi, năm Tân Mùi trở thành Tân mạnh – Ất yếu.
→ Thỏa mãn điều kiện cần và điều kiện đủ của hung.
Suy ra: Cha của mệnh chủ chết vào năm Tân Mùi 1991
Hãy liên hệ với tôi thông qua SĐT 0349 943 753 | Email cá nhân levantrieutuvi@gmail.com | Facebook: https://www.facebook.com/profile.php?id=61580570132260